Mùa hè – cảnh giác bệnh viêm não Nhật Bản

Mùa hè – cảnh giác bệnh viêm não Nhật Bản
Mùa hè là thời điểm nhiều dịch bệnh xuất hiện, trong đó phải kể đến bệnh viêm não Nhật Bản. Tình trạng bệnh viêm não sẽ tiến triển thành dịch nếu trẻ nhỏ chưa được tiêm chủng hoặc tiêm chủng chưa đạt yêu cầu. Bệnh rất nguy hiểm bởi không cứu chữa kịp thời rất dễ tử vong.
         Mùa hè là thời điểm nhiều dịch bệnh xuất hiện, trong đó phải kể đến bệnh viêm não Nhật Bản. Tình trạng bệnh viêm não sẽ tiến triển thành dịch nếu trẻ nhỏ chưa được tiêm chủng hoặc tiêm chủng chưa đạt yêu cầu. Bệnh rất nguy hiểm bởi không cứu chữa kịp thời rất dễ tử vong.
          Bệnh thường gặp ở trẻ em nhất là trẻ em dưới 10 tuổi bởi vì ở độ tuổi này có sức thụ bệnh cao với bệnh VNNB hơn người trưởng thành. Đặc điểm của virut VNNB là rất có ái lực với tế bào thần kinh, vì vậy mà khi virut vào máu, chúng đến hệ thần kinh và nhân lên mạnh mẽ ở đó gây nên các phản ứng như sốt cao và gây tổn thương hệ thần kinh. Người ta thấy rằng sau khi mắc bệnh VNNB cơ thể có miễn dịch vững bền vì vậy tiêm chủng vaccin VNNB là hết sức có lợi cho trẻ.


Một bé gái bị viêm não Nhật Bản đang năm điều trị tại Bệnh viện Nhi Trung ương
Triệu chứng của bệnh:
          Thời kỳ nung bệnh của viêm não Nhật Bản thường kéo dài từ 5-7 ngày. Trong thời kỳ này, không có biểu hiện gì khác thường, sau đó là thời kỳ khởi phát, xuất hiện các triệu chứng viêm long đường hô hấp trên (sổ mũi, viêm họng, nghẹt mũi, ho...), sốt cao đột ngột (trên 39-40oC), kèm theo đau đầu, đặc biệt là ở vùng trán. Có thể có rối loạn tiêu hóa (đau bụng kèm theo đi ngoài phân lỏng, buồn nôn, nôn) nhất là ở trẻ nhỏ tuổi. Thường  là nôn vọt và không lệ thuộc vào bữa ăn (nôn bất kỳ lúc nào). Có biểu hiện cứng gáy và tăng trương lực cơ, có thể xuất hiện lú lẫn, mất dần ý thức.
Thời kỳ toàn phát, các dấu hiệu cũng giống ở thời kỳ khởi phát nhưng tăng mạnh, đặc biệt là các dấu hiệu thần kinh như cuồng sảng, ảo giác hoặc kích động, tăng trương lực cơ làm cho trẻ bệnh nằm trong tư thế co quắp “kiểu  cò súng”. Co giật cũng có thể xuất hiện hoặc bị bại, liệt cứng. Đối với loại bệnh nặng, có thể u ám lúc ban đầu rồi dần dần đi vào hôn mê. Ngoài ra có các dấu hiệu về thần kinh thực vật tăng rõ rệt như vã mồ hôi, rối loạn vận mạch dưới da (da lúc đỏ, lúc tái), rối loạn nhịp thở và tăng tiết dịch ở hệ hô hấp.
          Bước sang tuần thứ 2, các triệu chứng như sốt, triệu chứng thần kinh, tim mạch dần dần giảm (gọi là thời kỳ lui bệnh). Một số bệnh  nhân sau giai đoạn này có thể bị di chứng như liệt chi hoặc liệt các dây thần kinh sọ não hoặc rối loạn sự phối hợp vận động.
Để lại biến chứng nguy hiểm
          Nếu không được chữa trị sớm, bệnh có thể có biến chứng rất nặng như viêm phổi, viêm phế quản hoặc viêm phế quản - phổi do bội nhiễm vi khuẩn. Ngoài ra có thể gặp một số có di chứng muộn sau một năm hoặc lâu hơn như động kinh, Parkinson. Bệnh viêm não Nhật Bản có tỷ lệ tử vong cao (khoảng từ 20-80%) thường gặp ở những bệnh nhân nặng như có co giật, hôn mê sâu, nằm lâu ngày, suy kiệt, viêm phổi nặng.
Phòng bệnh như thế nào?
          Để ngăn chặn bệnh viêm não Nhật Bản, cần tuyên truyền rộng khắp trong toàn dân về tác hại của bệnh, nguy hiểm của muỗi và bọ gậy (loăng quăng). Đồng thời phổ biến các biện pháp diệt bọ gậy và diệt muỗi trưởng thành bằng mọi hình thức.
          Những địa phương có nguy cao mắc bệnh hoặc đang có bệnh viêm não Nhật Bản, cần áp dụng các biện pháp dùng hóa chất diệt muỗi như phun, tẩm màn và dùng hương xua, diệt muỗi. Biện pháp phun hóa chất diệt muỗi là biện pháp rất hữu hiệu nhưng cần tiến hành đồng bộ cho tất cả các hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố, không được bỏ sót bất kỳ một gia đình nào để không còn nơi trú ẩn của muỗi. Khi nằm nghỉ hay ngủ, cần nằm màn tránh muỗi (ngay cả ban ngày).
          Tiêm chủng vắc-xin viêm não Nhật Bản là biện pháp tốt nhất để đề phòng mắc bệnh, vì vậy, cần cho trẻ và người lớn chưa có miễn dịch với bệnh viêm não Nhật Bản đến trung tâm y tế dự phòng để tiêm vắc-xin. Cụ thể, đối với trẻ dưới 5 tuổi: mũi một, tiêm lúc trẻ đủ 1 tuổi; mũi 2, sau mũi 1 từ 1-2 tuần; mũi 3, sau mũi 2 là 1 năm. Sau đó cứ 3-4 năm tiêm nhắc lại một lần cho đến khi trẻ qua 15 tuổi. Đối với trẻ trên 5 tuổi, nếu chưa từng được tiêm vắc-xin thì cũng tiêm với 3 liều cơ bản. Khoảng cách các mũi cũng tương tự như trên.

Tác giả bài viết: Khoa Truyền thông GDSK - Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh